Năng suất lao động công nghiệp Việt Nam đang bị các nước trong khu vực bỏ khá xa

17:08, 10/03/2017

(XHTT) - Trong 10 năm qua, tổng giá trị sản xuất công nghiệp của Việt Nam đã tăng trưởng 3,42 lần, cùng với đó tỷ trọng GDP công nghiệp cũng ổn định ở mức 31-32% và tăng trưởng giá trị sản xuất công nghiệp tăng nhanh hơn so với các nước trong khu vực và thế giới.

(XHTT) - Trong 10 năm qua, tổng giá trị sản xuất công nghiệp của Việt Nam đã tăng trưởng 3,42 lần, cùng với đó tỷ trọng GDP công nghiệp cũng ổn định ở mức 31-32% và tăng trưởng giá trị sản xuất công nghiệp tăng nhanh hơn so với các nước trong khu vực và thế giới.

Tại Hội thảo khoa học quốc tế “Chính sách công nghiệp quốc gia của Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2035” do Ban Kinh tế Trung ương phối hợp với Bộ Công thương tổ chức vào ngày 10/3/2017, ông Nguyễn Văn Bình, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Kinh tế Trung ương nhấn mạnh, trong những năm qua, Đảng và Nhà Nước luôn quan tâm đề ra các đường lối, chủ trương, xây dựng chính sách để thúc đẩy ngành công nghiệp không ngừng phát triển.

Đồng chí Nguyễn Văn Bình, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Kinh tế Trung ương
Đồng chí Nguyễn Văn Bình, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Kinh tế Trung ương

Trong vòng 10 năm qua, tổng giá trị sản xuất công nghiệp của Việt Nam đã tăng trưởng 3,42 lần, cùng với đó tỷ trọng GDP công nghiệp cũng ổn định ở mức 31-32% và tăng trưởng giá trị sản xuất công nghiệp tăng nhanh hơn so với các nước trong khu vực và thế giới.

Lĩnh vực có tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất cao nhất trong các ngành kinh tế quốc dân đó chính là công nghiệp. Tăng trưởng giá trị gia tăng của ngành công nghiệp trong giai đoạn 2006 – 2015 đạt bình quân 6,9%/năm, trong đó giai 05 năm đầu đạt 5,9%/năm và 05 năm sau là 7,9%/năm.

Cũng trong giai đoạn nói trên,kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm công nghiệp tăng gần 3,5 lần. Cơ cấu xuất khẩu các sản phẩm công nghiệp chuyển biến tích cực, kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm công nghiệp chế biến chế tạo chiếm tỷ trọng chủ yếu và tăng liên tục (năm 2007 chiếm 78%, năm 2015 tăng lên chiếm 97,3%).

Những tín hiệu khả quan từ ngành sản xuất công nghiệp không chỉ góp phần vào sự phát triển chung của nền kinh tế Việt Nam mà còn giải quyết đáng kể tình trạng thiếu việc làm và đời sống người dân được cải thiện đáng kể. Hiện khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài và khu vực kinh tế tư nhân trong nước đóng góp ngày càng lớn vào đầu tư phát triển công nghiệp của đất nước.

Sở dĩ, giá trị sản xuất công nghiệp và giá trị gia tăng công nghiệp tăng trưởng liên tục trong nhiều năm là do sự chỉ đạo sát sao của Đảng và Nhà nước về đường lối, chủ trương phát triển kinh tế - xã hội, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Cùng với đó là các Bộ, ban ngành đã nghiên cứu, xây dựng và ban hành hàng trăm văn bản quy phạm pháp luật bao quát khá đầy đủ các nội dung có liên quan đến chính sách công nghiệp quốc gia, tạo tiền đề để Việt Nam đủ tự tin tham gia vào những sân chơi quốc tế như WTO.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, trong quá trình phát triển, ngành công nghiệp cũng bộc lộ một số bất cập, hạn chế. Trưởng Ban Kinh tế Trung ương - ông Nguyễn Văn Bình cho rằng, trình độ công nghiệp Việt Nam còn ở mức thấp, chủ yểu đang phát triển theo chiều rộng, nội lực còn yếu, phụ thuộc nhiều vào doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), sự liên kết giữa các doanh nghiệp FDI với các doanh nghiệp trong nước còn hạn chế.

Bên cạnh đó, tăng trưởng sản xuất công nghiệp chưa cao, thiếu bền vững. Năng suất lao động công nghiệp, nhất là ngành công nghiệp chế biến – chế tạo còn ở mức thấp. Tốc độ tăng năng suất lao động của ngành công nghiệp giai đoạn 2006-2015 khoảng 2,4%/ năm, chậm hơn tốc độ tăng bình quân chung của nền kinh tế là 3,9%. So với các quốc gia trong khu vực, Năng suất lao động công nghiệp của Việt Nam, nhất là của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo còn khá thấp, cụ thể Malaysia có mức năng suất lao động ngành chế biến chế tạo cao gấp 6,4 lần, Thái Lan cao gấp 6,4 lần, Philippine gấp 3,6 lần.

Đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng ngành công nghiệp vẫn còn khá thấp, đóng góp của yếu tố công nghệ đối với tăng năng suất của ngành chế biến, chế tạo chỉ chiếm khoảng 11,1%.

Trong thời gian tiếp theo, cụ thể là giai đoạn 2016 – 2025, để tiếp tục thực hiện chủ trương, mục tiêu và nhiệm vụ được xác định trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011-2020 và thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, xây dựng nền tảng sớm đưa Việt Nam cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại, việc xây dựng khung khổ chính sách công nghiệp quốc gia của Việt Nam đồng bộ, hiệu quả nhằm đẩy mạnh và nâng cao chất lượng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước giai đoạn 2016 - 2025, tầm nhìn đến năm 2035 hết sức cần thiết.

Để giải quyết các vấn đề còn tồn đọng, các rào cản khiến năng suất lao động của ngành công nghiệp của chưa cao, Việt Nam cần tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách nhằm tạo môi trường thuận lợi để thu hút đầu tư; xác định rõ vai trò của các thành phần kinh tế trong phát triển công nghiệp để định hướng chính sách phát triển phù hợp, thúc đẩy ứng dụng công nghệ mới, đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu lao động, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực công nghiệp, đa dạng hóa nguồn tài chính cho phát triển công nghiệp.

Chặng đường 10 năm tới chắc chắn sẽ còn rất nhiều khó khăn với các ngành nghề của Việt Nam, trong đó có sản xuất công nghiệp, nhưng dưới sự chỉ đạo và định hướng của Đảng và Nhà nước, nền kinh tế Việt Nam nói chung và ngành công nghiệp nói riêng sẽ có những bước tiến mới và Năng suất lao động công nghiệp có thể bắt kịp khu vực và thế giới.

P.V (tổng hợp)

 

.