Việt Nam: Hạ tầng viễn thông phải trở thành nền tảng để phát triển kinh tế

00:43, Thứ Bảy, 23/07/2016 (GMT+7)

Băng rộng đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế không chỉ của từng quốc gia mà của toàn thế giới. Việc tiếp cận và sử dụng các dịch vụ ứng dụng viễn thông trên nền băng rộng là điều kiện đầu tiên và tối thiểu trong thương mại quốc tế. Băng rộng hiện nay được tất cả các quốc gia quan tâm và đề ra mục tiêu làm sao để người dân được tiếp cận và sử dụng các dịch vụ một cách nhanh nhất, chất lượng cao nhất với giá thành thấp nhất. Điều kiện này cũng là một trong các nội dung đảm bảo “quyền con người” trong thể lệ viễn thông quốc tế.

Bức tranh tổng thể của Viễn thông Việt Nam giai đoạn 2011 - 2015

Theo thống kê của Ngân hàng Thế giới, đối với các nước đang phát triển cứ 10% tăng trưởng băng rộng sẽ đem lại 1,38% tăng trưởng GDP. Hạ tầng viễn thông băng rộng cho phép cung cấp các ứng dụng và dịch vụ phục vụ cho việc thực hiện thành công một số các chương trình của các nước như: e-Government, e-Commerce, e-Banking, e-Learning, e-Health/Telemedicine, IoT (Internet of Thing), M2M,….

Số liệu thống kê năm 2014 của Cục Viễn thông

 

Có thể thấy, hạ tầng mạng viễn thông của Việt Nam đã tương đối hoàn thiện và phát triển với nhiều hình thức khác nhau. Phần lớn các doanh nghiệp viễn thông đã chuyển sang hoạt động trên hạ tầng cáp quang với tổng số thuê bao băng rộng cố định là 7 triệu, số thuê bao data card của mạng 3G xấp xỉ gần 4 triệu và thuê bao sử dụng dịch vụ thông tin di động 3G là khoảng 37 triệu. Tốc độ phát triển thuê bao băng rộng di động của Việt Nam từ năm 2011 đến 2015 đã tăng từ 5 triệu lên thành 40 triệu thuê bao. Trong khi đó thuê bao băng rộng cố định cũng trong khoảng thời gian kể trên đã tăng từ 1 triệu lên thành 9 triệu và thuê bao Internet tăng từ 27 triệu lên 36 triệu.

Tốc độ phát triển thuê bao băng rộng của Việt Nam giai đoạn 2011-2014

Băng rộng di động đã chính thức được cấp phép vào tháng 10/2009 và VNPT là doanh nghiệp tiên phong triển khai thành công vào năm 2010. Từ đó đến nay tốc độ tăng trưởng của thuê bao băng rộng di động tương đối nhanh khoảng 30%/năm. Băng rộng di động và băng rộng cố định có tốc độ phát triển tương đối ổn định. Trong thời gian tới, khi các doanh nghiệp viễn thông tiến hành chuyển đổi công nghệ từ cáp đồng sang cáp quang sẽ kéo theo số thuê bao băng rộng cố định phát triển một cách mạnh mẽ hơn, số người sử dụng dịch vụ Internet sẽ ngày càng tăng lên so với con số hiện tại là 36 triệu thuê bao.

Từ khi Việt Nam mở cửa thị trường Viễn thông cho đến nay đã có 26 doanh nghiệp chuyên về Hạ tầng mạng, trong đó có 15 doanh nghiệp triển khai trên toàn quốc, 5 nhà mạng và 36 nhà cung cấp dịch vụ truy nhập Internet. Tổng doanh thu của Ngành Viễn thông năm 2015 xấp xỉ 340.000 tỷ đồng.

Xu thế phát triển trong thời gian tới

Có thể nói, Viễn thông là một trong những ngành có tốc độ phát triển nhanh nhất với khởi đầu từ công nghệ CDMA, tiếp đến 2G, rồi 3G, 4G và đến năm 2018 sẽ là thời đại của công nghệ 5G. Theo số liệu thống kê của Công ty Ericsson, tổng số thuê bao di động trong quý 1/2016 là khoảng 7,4 tỷ thuê bao; 3,7 tỷ thuê bao băng rộng di động; 3,4 tỷ thuê bao là sử dụng smartphone. Công nghệ LTE vẫn tiếp tục phát triển mạnh mẽ với 150 triệu thêu bao mới, nâng tổng số thuê bao của công nghệ này lên con số 1,2 tỷ.

Bên cạnh sự tăng trưởng của những nền tảng công nghệ mới, người ta lại chứng kiến số lượng thuê bao của công nghệ di độngt hế hệ trước như GSM/EDGE.

Nhu cầu con người đối với các nền tảng, ứng dụng công nghệ mới ngày càng tăng lên, là động lực thúc đẩy sự ra đời của các công nghệ mới cho tốc độ kết nối cao hơn. Tuy nhiên, theo dự báo của các chuyên gia và căn cứ vào kế hoạch triển khai công nghệ thực tế của từng quốc gia có thể thấy, thời gian triển khai và vận hành các nền tảng công nghệ di động sẽ ngày càng rút ngắn lại: từ công nghệ 1G đến 2G là khoảng 20 năm, từ 2G lên 3G là khoảng 15 năm và từ 3G lên 4G chỉ còn 10 năm, khoảng cách giữa 4G và 5G sẽ càng ngắn hơn. Tiến tới các dịch vụ mang tính kết nối trên phạm vi toàn cầu có thể đạt 28 tỷ thiết bị kết nối, trong đó 16 tỷ kết nối liên quan đến các dịch vụ IoT (Dịch vụ Internet của vạn vật).

Trong tương lai gần, xu thế phát triển chung của viễn thông sẽ chủ yếu tập trung dựa trên kinh nghiệm của người sử dụng và khả năng kết nối công nghệ mọi nơi mọi lúc, Trong đó smartphone và các thiết bị đeo vẫn là thiết bị kết nối di động chủ yếu. Đến năm 2018 công nghệ 5G sẽ được triển khai và đưa vào khai thác thương mại ở nhiều quốc gia kéo theo sự phát triển của các nền tảng hệ thống như IP, Cloud, Big Data. Tiếp đến là sự ra đời của nền tảng Social Media 2.0, các dịch vụ trực tuyến và thanh toán trực tuyến như e-health, e-commerce, mobile payment…, các dịch vụ mới trên nền tảng M2M, các ứng dụng IoT và bảo mật khác.

Kế hoạch phát triển băng rộng của Việt Nam

Viễn thông nói chung và đặc biệt hạ tầng viễn thông băng rộng đóng nói riêng đã và đang đóng góp vai trò lớn nhất trong việc rút ngắn khoảng cách giữa các nước phát triển và đang phát triển. Thông qua mạng viễn thông băng rộng để làm thay đổi về hình thức thương mại, trao đổi văn hoá và rút ngắn mọi khoảng cách về thời gian, trình độ phát triển.

Nhận thức được tầm quan trọng của băng rộng di động đối với sự phát triển kinh tế, xã hội, đầu năm 2016 Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Kế hoạch phát triển băng rộng giai đoạn 2016 - 2020 tại Quyết định số 149 QĐ/Ttg. Trong đó đặt ra các mục tiêu: biến hạ tầng viễn thông trở thành nền tảng phát triển kinh tế chung; xây dựng và mở rộng hạ tầng băng rộng hiện đại đạt tốc độ truy cập cao, đáp ứng nhu cầu về dung lượng đang ngày càng tăng lên của người dùng, đồng thời mở rộng vùng phủ sóng; cung cấp các dịch vụ băng rộng chất lượng cao phù hợp và giá thành thấp; tập trung phát triển các nền tảng ứng dụng, đa dạng hóa dịch vụ như e-Government, e-Commerce, e-Banking, e-Learning, e-Health/Telemedicine; ứng dụng công nghệ băng rộng trong phòng chống thiên tai, an toàn, an ninh xã hội.

Song song với đó, Chính phủ cũng đặt các mục tiêu phát triển cho băng rộng di động trong thời gian tới cho các doanh nghiệp viễn thông triển khai thực hiện như: phạm vi phủ sóng băng rộng tới hơn 50% số hộ gia đình với tốc độ 4Mbps và hơn 75% người dân ở các thành phố lớn như Hà Nội, Tp. Hồ Chí Minh, Đà Nẵng… có tốc độ truy cập băng rộng là 15 Gbps; trên 99% các cơ quan, tổ chức như giáo dục, Y tế, hành chính nhà nước, thư viện, doanh nghiệp… có tốc độ băng rộng đạt 4 Gbps.

Để đạt các mục tiêu nói trên, các cơ quan, ban ngành, các Bộ, Chính phủ sẽ chung tay xây dựng các cơ chế chính sách hợp lý để điều tiết, quản lý thị trường Viễn thông, quản lý kho số, quản lý về giá cước, quản lý về chia sẻ hạ tầng mạng, quản lý về chất lượng dịch vụ...


PV (ghi chép tại Hội thảo Triển lãm Vietnam ICT Com 2016)


 

.
.
.

.
.
.