Những nghịch lý về nguồn nhân lực Việt trong cuộc cách mạng số

13:21, Thứ Hai, 26/09/2016 (GMT+7)
Việt Nam có tận dụng được cơ hội của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 hay không theo lời của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc là có hiểu, biết và vượt qua được những thử thách mà cuộc cách mạng số đặt ra hay không? Điều đó phụ thuộc rất nhiều vào nguồn nhân lực cũng như định hướng phát triển nguồn nhân lực trong nước.  
 
Theo chia sẻ của Tiến sĩ Võ Trí Thành, nguyên Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương tại Diễn đàn cấp cao ICT năm nay (Vietnam ICT Summit 2016) diễn ra ngày 24/9 vừa qua, việc phát triển nguồn nhân lực Việt hiện đang tồn tại 3 nghịch lý lớn cần phải giải quyết, đặc biệt là trong bối cảnh cuộc cách mạng số đang diễn ra từng ngày, từng giờ và Việt Nam đang hội nhập quốc tế sâu rộng.
 
Thứ nhất, người Việt Nam vốn nổi tiếng là cần cù, chăm chỉ và thông minh. Thế nhưng, cả nước mới có 20 - 30% người được đào tạo nghề cơ bản. Phổ cập giáo dục thì theo báo cáo mới nhất, đến tận năm 2035 chúng ta cũng mới chỉ dám đưa ra mục tiêu là hoàn thành phổ cập mức trung học cơ sở (hết lớp 9). 
 
Có thể, nhiều người cho rằng giáo dục không phải là yếu tố quan trọng, nhất là trong bối cảnh cuộc cách mạng số hiện nay, công nghệ đang phát huy thế mạnh của nó trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Có nhiều bạn trẻ chẳng cần phải học hết cấp 3 hay được đào tạo chuyên sâu cũng có thể thành công trong kinh doanh. Ngược lại, cũng có nhiều người được đào tạo bài bản, thậm chí học cấp cao cũng không phát huy được lợi thế đó, tạo ra những sản phẩm dịch vụ phục vụ cho đất nước.
 
Tuy nhiên, nếu nhìn toàn cục thì ngành nghề hiện nay của chúng ta phần lớn là những ngành nghề thâm dụng lao động, thâm dụng tài nguyên và thâm dụng vốn. Tuyệt đại đa số trong số 55 triệu người lao động tại Việt Nam hiện nay làm việc trong khu vực lĩnh vực kỹ năng thấp. 
 
Thứ hai, con người Việt Nam được cho là thông minh sáng tạo, thế nhưng chỉ số sáng tạo của Việt Nam (GII) cho tới tận năm 2016 vẫn đứng dưới mức trung bình của thế giới. Trong báo cáo mới nhất, năm nay chỉ số sáng tạo của Việt Nam bị tụt 7 bậc so với năm 2015, đứng ở vị trí thứ 59 trong tổng số 128 quốc gia được xếp hạng. Điều đó không có nghĩa là chúng ta bớt sáng tạo đi mà sự sáng tạo của nhân lực Việt đang tiến chậm hơn so với các quốc gia khác. 
Việt Nam đạt 35,4/100 điểm, xếp thứ 59 trong tổng số 128 quốc gia về chỉ số sáng tạo quốc gia
Việt Nam đạt 35,4/100 điểm, xếp thứ 59 trong tổng số 128 quốc gia về chỉ số sáng tạo quốc gia
GII có mối quan hệ với sự phát triển của nền kinh tế cũng như thể hiện trình độ phát triển công nghệ của một quốc gia. Bởi vậy, chỉ số này đã trở thành công cụ đánh giá quan trọng cho các nhà quản lý kinh doanh cấp cao, các nhà hoạch định chính sách và những ai quan tâm đến tình hình đổi mới sáng tạo toàn cầu. Với 35,4 điểm, Việt Nam vẫn được xếp vào số ít các quốc gia phát triển dựa trên việc khai thác tài nguyên.
 
Thứ ba, vẫn liên quan tới vấn đề Chỉ số sáng tạo. Với mức chỉ số sáng tạo như vậy, theo lý thuyết mức thu nhập trung bình của lao động Việt Nam phải là 7.500 USD/năm. Tuy nhiên, hiện nay thu nhập trung bình của chúng ta mới là 2.100 USD/năm, chưa bằng 1/3 con số theo lý thuyết.
 
Chỉ số sáng tạo của Việt Nam còn thấp, chúng ta chấp nhận điều đó và nỗ lực cải thiện. Tuy nhiên, có lẽ vấn đề chúng ta cần quan tâm hơn đó chính là làm sao để có thể phát huy được tiềm năng tương ứng. 
 
Nguồn nhân lực của chúng ta có thể trình độ không kém, sức sáng tạo không ít nhưng nó luôn ở mức trung bình. Phần đông chỉ nỗ lực ở mức bình thường để đáp ứng nhu cầu công việc thay vì huy động hết sự sáng tạo của mình để thể hiện bản thân, để tạo ra giá trị mới. Đó chính là một trong những nhân tố kéo lùi sức sáng tạo của cả một quốc gia và vô cùng cần phải thay đổi.
 
Vậy vấn đề cốt lõi của 3 nghịch lý nói trên là gì? Đó là chúng ta đủ năng lực, nhưng quan trọng hơn là chúng ta phải nhận biết được cơ hội và tiếp cận cơ hội đó. Thêm vào đó, các nhà làm chính sách phải làm thế nào để tạo được động lực cho mọi thành phần trong xã hội muốn phát triển bản thân, phát triển xã hội. Điều này cần đổi mới tư tưởng từ rất nhiều phía, từ cả các cơ quan nhà nước lẫn các doanh nghiệp, cá nhân - Tiến sĩ Vũ Trí Thành chia sẻ.
Các diễn giả chia sẻ về vấn đề phát triển nguồn nhân lực trong cách mạng số
Các diễn giả chia sẻ về vấn đề phát triển nguồn nhân lực trong cách mạng số
Việc năm 2016 được coi là năm quốc gia khởi nghiệp có thể coi là một trong những động thái chuyển biến tích cực từ phía cơ quan nhà nước đối với việc tạo động lực đổi mới sáng tạo cho tất cả mọi người, mọi thành phần trong xã hội. Các chính sách của nhà nước, của các doanh nghiệp đang khiến phong trào khởi nghiệp tại Việt Nam lên cao nhất từ trước tới nay. 
 
Trong nỗ lực xây dựng một hệ thống sáng tạo quốc gia, phải đặt doanh nghiệp làm trung tâm; đảm bảo môi trường cạnh tranh lành mạnh, bảo vệ áp lực cạnh tranh của thị trường, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ một cách triệt để. Có như vậy, các sản phẩm có giá trị, có tính trí tuệ cao mới mới có động lực để ra đời và phát triển. 
 
PV
 
.
.
.

.
.
.